Vấn đề vô gia cư và phúc lợi ở Nhật Bản.

0
2507

Một số thành phố lớn ở Nhật Bản đều có khu ổ chuột được gọi là “doya-gai”. Từ Doya có một ý nghĩa đáng kinh ngạc trong tiếng lóng đường phố tại Nhật , vì nó là từ “yado” (quán trọ) đảo ngược, có nghĩa là một nơi ở giá rẻ. Trong tiếng anh nó gần như tương đương với “skid row”, đặc biệt là khi chúng ta đang nói đến một khu ổ chuột mà hầu hết là chỉ là đàn ông. Những nơi ở nổi tiếng nhất Nhật Bản là Kamagasaki, Osaka; San’ya, Tokyo; Kotobuki, Yokohama.

“Doya-gai” là một nơi trú ẩn cho những người đàn ông gặp khó khăn. Họ có thể mất việc, cuộc sống hôn nhân tan vỡ, mất nhà do không thể trả tiền thuê, hoặc họ vừa rời nhà tù và không có chỗ nào để đi. Trong những trường hợp như vậy, họ vẫn có thể đến “doya-gai”, thuê một căn phòng giá rẻ mà không phải cung cấp thông tin cá nhân, tiền đặt cọc, tiền thuê, hoặc cần người bảo lãnh. Họ cũng có thể tìm được việc làm bình thường – không được trả lương cao, nhưng vẫn cung cấp đủ để ăn, uống, và trả tiền thuê phòng. 

Doya-rẻ nhất ở Osaka doya-gai của Kamagasaki vẫn có thể thuê dưới 1.000 yên một đêm.
Doya-rẻ nhất ở Osaka doya-gai của Kamagasaki vẫn có thể thuê dưới 1.000 yên một đêm.

Nhiều người Nhật Bản hầu như không biết đến sự tồn tại của “doya-gai”. Đối với những người biết đến, họ cho rằng những người đàn ông này thuộc tầng lớp bần cùng của xã hội. Những người đó chỉ được gợi nhớ qua những bản ballad những năm 1960 như “San’ya Blues” của Okabayashi Nobuyasu hay “Kamagasaki Ninjō” của Mitsune Eiji (Sự nhân đạo của Kamagasaki).

Cuộc đấu tranh tồn tại ở Kotobuki trong thời kỳ bong bóng kinh tế

Kotobuki, là “doya-gai” ở nằm giữa khu vực bất động sản ở trung tâm thành phố Yokohama. Nó gần với Sân vận động Yokohama, khu mua sắm Motomachi thời thượng và khu phố Tàu. Nó giống như một” doya-gai”, Kotobuki là một phần của khu phố Hàn (Korea Tow), nên cũng có nghĩa hầu hết các doya này là thuộc sở hữu của nhóm thiểu người Hàn. Tuy nhiên, bạn sẽ nhìn thấy vài điều khác biệt khi bạn đi bộ xung quanh Kotobuki.

Phía bên trái: Lắng nghe một bài giảng của Kitô giáo trên phố Kotobuki. Nếu bài giảng kết thúc, bạn có thể có được một bữa ăn miễn phí. Đây được gọi là āmen de rāmen (nói amen để có được một bát mì).
Phía bên phải: Người đàn ông xếp hàng để lấy thức ăn từ các tình nguyện viên ở Kotobuki.

Tôi đã tìm hiểu Kotobuki và các Doya-gai khác khoảng 20 năm qua. Trong thời gian này, nó đã có sự thay đổi rõ rệt.

Năm 1993, khi tôi lần đầu tiên đến Kotobuki, hầu hết những người đàn ông sống ở đó đều là những người lao động. Mỗi buổi sáng, họ dậy sớm, lúc bốn hoặc năm giờ sáng và cố tìm việc làm theo ngày. Có một thị trường lao động đường phố ở Kotobuki, được gọi là yoseba, nơi các nhà tuyển dụng liên kết với những nhóm yakuza địa phương. Có 2 cơ quan giới thiệu việc làm chính, một cơ quan được điều hành bởi Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi và cái kia là của chính quyền địa phương.

Vào giữa những năm 1990, cuộc sống của những người lao động theo ngày rất khó khăn. Sau sự bùng nổ của nền kinh tế bong bóng vào đầu thập kỷ, nhu cầu lao động giảm. Hầu hết các công việc cho người lao động theo ngày đều thuộc ngành xây dựng, mà ngành này ở Nhật Bản được mô tả theo mô hình kim tự tháp phức tạp với lần lượt là các nhà thầu, nhà thầu phụ, nhà thầu phụ phụ. Người lao động theo ngày thì thuộc phần đáy của kim tự tháp.

Vì vậy, khi thị trường bất động sản Nhật Bản đi xuống, hiệu ứng “doya-gai” bắt đầu mở rộng. Tiếp tục những năm 1990, cuộc đối đầu giành công việc tăng lên. Những người đàn ông đứng ở ngoài đợi sẵn trước khi giờ làm việc bắt đầu là 6:15, để có được một vị trí thuận lợi cho cuộc cạnh tranh xảy ra khi cửa sắt được mở.

Vào cuối thập kỷ, còn quá ít công việc để mà những người đàn ông này có thể từ bỏ cuộc cạnh tranh và giữ trật tự tại văn phòng tìm việc.

Ngày càng có nhiều nam giới không thể trả tiền thuê phòng “Doya” của mình và rơi vào cảnh vô gia cư. Dẫn đến là có hàng chục người ngủ quanh khu vực Kotobuki, và hàng trăm người ở những con đường xung quanh – tại ga Kannai, hoặc trong sân bóng chày.

Hiến pháp hỗ trợ người vô gia cư

Ngày nay, có ít người vô gia cư sống trên các đường phố của Yokohama. Đây là một phần của xu thế toàn quốc: dân số vô gia cư chính thức của Nhật Bản đã giảm từ 25.296 năm 2003 xuống 7.508 vào năm 2014. Sự cải thiện này một phần là do Luật hỗ trợ người vô gia cư được thông qua vào năm 2002. Theo luật này, các chính phủ trung ương và địa phương dành một phần kinh phí xây dựng mạng lưới các nhà tạm trú vô gia cư ở thành phố, đưa mọi người thoát khỏi cảnh ngủ đường và giúp họ có được việc làm và nhà ở.

Hamakaze, nhà tạm trú vô gia cư công cộng ở Kotobuki

Hamakaze, nơi trú ẩn chỉ dành cho người vô gia cư  của Nhật Bản, nằm ngay giữa Kotobuki. Đó là một tòa nhà bảy tầng màu trắng với 250 giường với 230 giường dành cho nam giới, 20 giường dành cho phụ nữ – trong các phòng chung có 4-8 giường. Thời gian lưu trú tối đa là một tháng ở tầng dưới và sáu tháng ở tầng trên, dành cho những người có việc làm và đang tích lũy tiền tiết kiệm để tìm chỗ ở cho họ. Một người được ở nhiều kỳ cư trú, nhưng họ phải đợi ít nhất một tháng trước khi nộp đơn xin vào lại tầng dưới. Vì vậy, một số người đàn ông đã ở xen kẽ một tháng ở Hamakaze với một tháng trên đường phố.

Nhưng ngày nay có thêm một lý do nữa giúp số liệu thống kê vô gia cư giảm, và đó là sự gia tăng số người được bảo đảm an sinh (seikatsu hogo), mạng lưới an sinh xã hội chủ chốt của Nhật Bản. Điều này tuân theo Điều 25 của Hiến pháp Nhật Bản, về “các tiêu chuẩn tối thiểu cho đời sống lành mạnh và văn hoá” của mọi công dân. Nó được sử dụng để giúp những người đàn ông trong “doya-gai” khi không được bảo đảm an sinh và muốn có một địa chỉ thường trú. Chính sách này – không được quy định cụ thể trong Luật Bảo Đảm An sinh nhưng đã được các quan chức địa phương đưa ra – trớ trêu thay nó đã cản trở những người cần được hưởng phúc lợi nhiều nhất từ việc áp dụng điều này.

Bên trong lều chăm sóc tại chiến dịch mùa đông Kotobuki 2013. Tác giả ở phía góc bên trái.

Sau một cuộc vận động mạnh mẽ của hiệp hội người lao động Kotobuki, “yêu cầu về địa chỉ thường trú là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an sinh” đã được gỡ bỏ vào giữa những năm 1990. Kết quả là  có sự gia tăng lớn về người hưởng phúc lợi. Kotobuki có dân số ở Doya khoảng 6.500 người. Hai mươi năm trước, hầu hết trong số họ là người lao động theo ngày. Ngày nay, hơn 80% đang sống nhờ Luật bảo đảm an sinh này.

Phúc lợi xã hội có thể phải cắt giảm.

Theo các tiêu chuẩn toàn cầu, bảo đảm an sinh là một hệ thống phúc lợi xã hội. Nó cung cấp khoảng 80.000 yên / tháng, cộng với tiền thuê khoảng 50.000 Yên và chăm sóc y tế, nha khoa miễn phí. Những người đàn ông sử dụng tiền của họ một cách tiết kiệm có thể đủ ở và ăn. Không còn nghi ngờ gì khi cho rằng “doya-gai” đã trở thành một môi trường xã hội nhân đạo hơn so với những ngày mà người lao động được coi là “lao động dùng một lần”. Chỉ được sử dụng khi còn giá trị và bị tống ra khỏi đường khi quá già hoặc quá yếu để làm việc.

Nhưng điều này không kéo dài lâu. Con số 5.000 người ở Kotobuki được nhận bảo đảm an sinh chỉ là đỉnh của một tảng băng trôi lớn. Từ mức thấp 882.000 vào năm 1995, số người nhận bảo đảm an sinh trong toàn bộ Nhật Bản đã tăng lên hàng năm, đạt 2,15 triệu vào tháng 6 năm 2014. Đồng thời, nợ quốc gia đã vượt qua con số “một ngàn triệu triệu”  1 ¥ và tại Thành phố Yokohama cũng có một vấn đề nghiêm trọng về nợ công. Sớm hay muộn, hai xu hướng này sẽ buộc phải giảm các khoản thanh toán phúc lợi. Thật vậy, chỉ trong năm ngoái, chính phủ đã tiến hành một loạt các biện pháp cắt giảm đối với “đảm bảo an sinh” xuống 10%.

Tuy nhiên, bây giờ, dân số già ở Kotobuki đang được chăm sóc khá tốt. Các trung tâm chăm sóc đã mọc lên giữa các “doya”, và những người nhận phúc lợi cao tuổi được thăm viếng tại phòng, phục vụ bữa ăn và đưa đến các trung tâm chăm sóc ban ngày trong xe lăn nếu cần. Thật là ấn tượng khi thấy mức độ chăm sóc được cung cấp ở đây cho tầng lớp thấp nhất của xã hội ở một thành phố lớn tại Nhật Bản.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here